VĂN TẾ
Anh Linh Tử Sĩ Việt Nam
Nghĩ:
Tự vua Hùng dựng nghiệp,
Cả gái trai đều ra sức tranh công,
Lấy cuộc sống đem làm thành lũy
Nơi sông Lạc khai cơ
Bao thế hệ vốn gìn lòng báo quốc
Dốc tâm can nào kể công lao.
Nhớ những khi nón chóp cờ đào,
Tưởng những lúc rừng chông biển lửa
Đất Phong Châu văn vẻ hào hoa
Nào ai dám rẻ khinh Man chữ ?
Trời Bạch Hạc oai phong tráng lệ,
Há ai còn tự phụ Trung Tôn?
Động Hoa Lư tỏa thược Bắc môn
Phân mao lãnh thần thư Nam giới.
Chí đến Thăng Long, Phú Xuân, Gia Định
Từ Bắc vào Nam khắp cõi
Từ thuở Hồng Bàng, Đại Việt, Việt Nam
Buổi trước về sau bao đời
Đâu chẳng có máu đào tưới mát cỏ hoa tươi?
Đâu chẳng còn xương trắng điểm tô đài kỷ niệm?
Nhớ người xưa:
Ngựa sắt thần đồng, sấm dậy ba ngày,
Thương Ân kia tiêu diệt;
Chiến tích hỏa công, than hồng trăm bữa,
Bạo Tần nọ suy vong.
Danh tứ chiến:
Chỉ Đông, Đông tan,
Nhìn Tây, Tây xếp,
Trỏ ngọn cờ phương Bắc – ngàn dậm đất rung rinh
Chĩa mũi giáo thành Nam – muôn khăn vàng rơi rụng!
Thuở thịnh Trần:
Hịch Tướng Sĩ còn vang,
Sóng Bạch Đằng vùi thây quân Thát Đát,
Thoát Hoan rút cổ mới toàn sinh.
Thời Bình Định:
Bình Ngô Đại Cáo truyền,
nước sông Cầu đặc quánh máu lính Lương Minh
Vương Thông muối mặt còn dư mệnh.
Năm Kỷ Dậu:
Hai mươi vạn quân Thanh,
Trong bảy bữa biến thành ma,
Sầm Nghi Đống chết vẫn hờn Tôn Sĩ Nghị
Gần Đây Thôi:
“Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần”.
Một trận Bời Lời cục Rờ mờ con mắt,
Hai cày Mỏ Vẹt, quân ... tét sọ đầu!
Ngậm ngùi thay:
Vận Trời Đất vốn cơ cầu
Trẻ Tạo Hóa thường quay quắt
Thương con trẻ kén chồng trang anh tuấn
Lầm mưu gian giếng nước hạt châu chìm.
Giận quân mạnh thừa cơ hiếp yếu
Giòng Hát Giang muôn thuở máu về tim.
Vì lòng tham danh chức lợi quyền
Cửa Thần Phù sóng hận lao xao vỗ …
Kẻ bán nước, có phải nào quân du thủ?
Bọn buôn dân, lẽ đâu ở đám ngu phu?
Phận chỉ huy, mảnh đất, đoàn quân
Thân lính chiến, thanh gươm, bá súng
Dẫu chiến thắng cũng thây phơi ngập đất
Lỡ bại vong hận uất ngất trời!
Hiển Trung kia – Thiên Tử chiếu: khóc thay cười
Võ Triều nọ - Tổng Nhung binh: hương hóa khói.
Kẻ biết được bề trên yếu kém, ba năm dân nghĩa Gò Công
Thân tướng lẻ, gươm vàng đành liệu trước
Người rõ thông bọn dưới tham tàn, một sớm sĩ danh Cần Chánh
Phận tôi côi, thuốc độc đã toan rồi.
Nơi trận tiền, trong phủ đệ, vì nước hận chưa nguôi;
Ngoài lân dã, chốn lao lung, do thù sâu chưa giải …
Thảm thay:
Danh chúa nước, gông cùm chết ở tha phương,
Thân quốc sĩ, biệt giam chết nơi quân dại
Đày ải cơ cùng từ Nam ra Bắc,
thây vùi khắp bãi rừng hoang;
Vượt biên khốn khổ từ Đông sang Tây,
Xác trôi khắp dòng nước bạc.
Tựu trung:
Phước chẳng được hưởng thái bình,
Số phải gặp thời luân lạc
Hoặc vì đại nghĩa xả thân
Hoặc vì bạo tàn thủ ác.
Hởi ơi!
Từ trước đến nay, có sinh thời có thác.
Tự trên xuống dưới, khi cẩn cũng khi sơ.
Thục đức chính nhân, hào khí đan tâm.
Linh hóa thiên cơ
Uy vũ trượng phu, anh thư bạc mệnh
Hồn siêu diệu tác.
Tội vốn một người,oan trùm trời đất
Ác do một ..., khổ khắp giang sơn
Thật thảm thay! Thảm thương thay!
Liệt sĩ bao đời kỳ trác!
Nay đây:
Một lễ đơn sơ,
Mấy tuần rượu lạt.
Vốn lòng thành kỉnh nghĩa người xưa,
Do dạ tưởng tứ phương linh giác.
Cộng Đồng Việt Tộc
một phương lễ tác
Cung thỉnh linh phong
Phù toàn minh giám.
Cung duy
Thượng hưởng
Mạc Hoài

(Phạm Văn Mến, Memphis, Tennessee-USA)