Giới Thiệu BÀI VĂN TẾ Do Thầy BÙI THANH KIÊN Viết

(Văn Tế là một thể loại khó viết xúc tích, mới thấy tài của soạn giả !)
+++++++++++
(Trích trong Truyện Thơ ĐỒI MAI VÙI KIẾM Của BÙI THANH KIÊN)
TẾ SĨ DÂN
3919-Bấy lâu cung nỏ chẳng rời,
3920-Mái tranh bốc lửa, máu rơi đường làng.
3921-Sân chầu, chiếu chỉ đã ban,
Lính dân trăm họ, dựng đàn cầu siêu.
Chết rồi, nghiệp chướng đốn tiêu,
Không phân bạn nghịch, binh triều gì đâu.
Cảm thương quỉ đói cụt đầu,
Giựt giành cháo lú xôn xao Nại hà.
Tiết lành, trà quả hương hoa,
Đèn hiu hắt giọi, la đà trầm bay.
Sụt sùi quì trước lễ đài,
3930-Lòng thành, Nguơn soái đọc bài tế văn.
===================
Bài văn tế rằng:
1-Phách lạc Tây trì,-Hồn vương trung thổ.
2-Trời đất muời phương mờ cát bụi,
dặm chông gai lận đận,
phận đói nghèo vướng mắc lắm oan khiên;
Biển dâu bốn phía dấy binh đao,
kiếp cung kiếm gian nan,
lớp trai tráng đeo mang nhiều lụy khổ.
Nhớ linh xưa:
3-Làng xóm chăm tằm nia lúa rẫy,
đồng tiền liền khúc ruột,
tánh thiệt thà lo chí thú làm ăn;
Cửa viên quen trận giáp trường nhung,
dáo khiên kết bạn bè,
bề trung ái theo hồi còi chiêu mộ.
4-Tấc đất ngọn rau gìn phải đạo,
dám mong điều phú quí vinh huê;
Nghĩa dân ơn nước sống trọn tình,
đâu sá cảnh cơ hàn gian khổ.
5-Biển lặng gió gầm; đất bằng sóng vỗ.
6-Ngàn trùng cách biệt kiếp vong gia;
Muôn mối âu lo người thất thổ.
7-Khói đen cuộn tan tành nơi nương náu,
thương mồ mả ông cha tổ phụ,
lòng chạnh tình khó bước chơn đi;
Lửa đỏ thiêu trụi lủi vốn dụm dành,
tiếc công lao nước mắt mồ hôi,
dạ đoái cảnh khôn cầm lụy nhỏ.
8-Gót lưu lạc nhớ vườn cà giàn mướp,
biết bao giờ đầm ấm tình quê;
Thân nổi trôi nằm góc biển ven mây,
thương bỗng chốc xa rời chốn cũ.
9-Dạ muối xát nẻo trời quen đất lạ,
nghĩa cù lao công hoạn dưỡng, đâu đã đắp bù;
Lòng kim châm nơi doi sáng vịnh chiều,
ơn cúc dục đức sanh thành, hẳn chưa báo bổ.
10-Xẻ đàn tan nghé, khó trọn đạo cha con;
Rẽ thúy chia quyên, khôn vẹn tình chồng vợ.
Khá thương thay:
11-Giặc giết dân nghèo;
Trận bày xóm nhỏ.
12-Buổi loạn lạc nào theo điều nhơn nghĩa,
đau đớn nghĩ người dân lương thiện,
mắc oan tình đành chôn xác rừng xanh;
Lũ bạo tàn đâu thiết chữ khoan dung,
ngậm ngùi thương trẻ ấu thơ,
chẳng nợ máu cũng vùi thây lửa đỏ.
Cho nên:
13-Anh hùng quyết dốc sức chém kình,
Hào kiệt lăm ra tay bắt hổ.
14-Hoặc là vướng cha thù anh oán,
mang cung kiếm đeo lòng cừu hận,
sức vẫy vùng nào kể tử sanh;
Hoặc là đền nợ nước ơn vua,
cắp mác dao trải mật trung trinh,
chí ngang dọc đâu màng yểu thọ.
15-Nghĩa cả nặng nề; thân trai năng nỗ.
16-Chim sè cánh xông vào cơn bão đạn,
lòng nôn nao quét sạch bọn sói lang;
Rồng giương vi lướt dưới trận mưa tên,
dạ hăm hở đánh tan bầy beo hổ.
17-Mòn mỏi cảnh nước khe cơm vắt,
kiếp vô phần mãi đeo đẳng kiếp tha hương;
Đắng cay nơi đầu kiếm mũi dao,
niềm bất hạnh chẳng buông tha đời viễn thú.
Thương ôi!
18-Cam đành căn phận định rủi may,
-Phó mặc đất trời ban lành dữ.
19-Thây rã rời nào kẻ xót thương;
Kiếp lao nhọc ai người che chở.
20-Cánh bằng lướt mây cao chín vạn,
gươm lạc hồn, gói da ngựa nào hay;
Sức kình đè sóng dữ muôn trùng,
kiếm đoạn mạng, nắm lông hồng vội bỏ.
21-Mộ bạc phần, vèo rít gió rừng hoang;
Xương vô chủ, mờ soi trăng bến cũ.
22-Xuân thu vắng lễ chưng thường;
Giỗ chạp lạnh hương tế tự.
23-Chiều xuống muộn mong người xa xứ,
chợt nhớ cảnh én Nam nhạn Bắc,
vô tình bốn bức sầu giăng;
Đêm về khuya thương kẻ vắng nhà,
chạnh nhớ câu chồng Sở vợ Tần,
bất giác hai hàng lụy nhỏ.
24-Tàn cổ thọ mưa thu buông buồn lạnh,
hương án ngọn đèn chong leo lét, vợ dại còn đây;
Giọng đề quyên canh hạ điểm nhặt thưa,
khăn tang bầy trẻ dại chít chiu, con thơ còn đó.
25-Dựa song quạnh im lìm tăm cá,
nét võ vàng mắt hướng tận trời xa;
Ngóng người đi vắng bặt bóng nhàn,
bước sờ soạng gậy nương lần ngỏ nhỏ.
Ô hô!
26-Một tướng danh thành,-Ngàn quân mạng bỏ.
27-Công hãn mã nặc nồng mùi tử khí,
trăng mơ màng kêu réo quỉ Vô thường;
Gác Lăng yên lố nhố bóng cô hồn,
đêm vắng vẻ khóc than ma uổng tử.
Bổn chức nay:
28-Chợt thấy kẻ xe rũ màn xanh;
Thầm thương người xác vùi hố nhỏ.
29-Mảnh da ngựa bọc thây người chí lớn,
xác xây thành trang sử vẫn chép ghi;
Lưỡi gươm vàng vấy máu kẻ thù chung,
lính chết trận lòng dân luôn tưởng nhớ.
30-Ngôi hoàng cực sẵn mến tài hào kiệt,
ngự phê truyền xuống chỉ thưởng ban;
Điện kim loan nay mở lượng biển trời,
chuẩn tấu dựng lên đàn siêu độ.
31-Hoặc nợ sẵn với non xanh động biếc,
lòng hư không phát nguyện tụng Huỳnh đình;
Hay duyên xưa cùng phướn đỏ sen vàng,
bè Tiếp dẫn đưa linh về Đông độ.
32-Tình người ấm áp, lể vãn vong rượu rót đôi bầu;
Trà quả đơn sơ, tuần úy tế phẩm dưng một cỗ.
33-Phá vô minh xa lánh nghiêp luân hồi;
Theo chánh đạo tìm cầu đường giác ngộ.
34-Phò đất nước cho mưa hòa gió ngọt,
thuận ý trời mở đức Thuấn Nghiêu;
Giúp non sông cho bão dứt mây tan,
hợp lòng người lập đời Thang Võ.
Có linh xin hưởng.